Trường quân đội, công an: Chỉ xét thí sinh nguyện vọng 1

19/02/2017 17:00

Thí sinh chỉ được đăng ký xét tuyển nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường quân đội hoặc công an và phải đăng ký ngay từ khi sơ tuyển.

1_DAOU
Nhiều học sinh quan tâm đến tuyển sinh khối trường công an, quân đội trong các buổi tư vấn mùa thi

Theo hướng dẫn đăng ký sơ tuyển vào ĐH, CĐ quân sự của Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng, thí sinh chỉ được đăng ký xét tuyển nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường quân đội hoặc công an và phải đăng ký ngay từ khi sơ tuyển.

Sơ tuyển từ ngày 1.3

Từ ngày 1.3 đến hết ngày 25.4, ban tuyển sinh quân sự các đơn vị cấp trung đoàn và cấp huyện sẽ triển khai việc sơ tuyển vào các trường, học viện quân sự. Khi đăng ký sơ tuyển, thí sinh (TS) phải đăng ký xét tuyển nguyện vọng (NV) 1 (NV cao nhất) vào trường nộp hồ sơ sơ tuyển. Các NV còn lại, TS đăng ký vào các trường ngoài quân đội hoặc hệ dân sự của các trường quân đội, thực hiện đăng ký theo quy định của Bộ GD-ĐT.

Công văn lưu ý: “Các trường quân đội và công an đều chỉ xét tuyển đối với TS đăng ký NV1. Vì thế, ban tuyển sinh quân sự cấp huyện phải thông báo rộng rãi, hướng dẫn TS chỉ làm hồ sơ sơ tuyển vào một trong 2 khối trường (TS đã tham gia sơ tuyển vào các trường thuộc Bộ Công an thì không tham gia sơ tuyển vào các trường thuộc Bộ Quốc phòng) và chủ động phối hợp với phòng công an cấp huyện để đối chiếu danh sách”.

Công văn này cũng giải thích: “Do mỗi trường có các tiêu chuẩn khác nhau, nhất là về tiêu chuẩn sức khỏe, TS phải đăng ký sơ tuyển và đăng ký xét tuyển NV1 vào một trường quân đội và chỉ được đăng ký một NV1 ngay từ khi sơ tuyển”.

TS không trúng tuyển NV1 vào các học viện, trường trong quân đội sẽ được xét tuyển các NV kế tiếp vào các trường ngoài quân đội hoặc hệ dân sự của các trường trong quân đội, theo thứ tự ưu tiên của các NV mà TS đăng ký xét tuyển theo quy định của Bộ GD-ĐT.

Có điểm chuẩn riêng cho khu vực phía nam

Hạn chế tuyển nữ

Đối tượng tuyển sinh của các trường quân sự chủ yếu là nam thanh niên. Nữ cũng được tuyển nhưng chỉ với một số ngành và chỉ tiêu hạn chế. Các ngành bác sĩ quân y tại Học viện Quân y và các ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng, ngoại ngữ tại Học viện Khoa học quân sự tuyển không quá 10% chỉ tiêu nữ. Các ngành công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, điện tử y sinh, khí tài quang, địa tin học tại Học viện Kỹ thuật quân sự tuyển không quá 6% chỉ tiêu nữ.

Các trường quân sự chủ yếu tuyển sinh trình độ ĐH. Trình độ CĐ chỉ có 2 ngành là kỹ thuật hàng không tại Trường Sĩ quan không quân và văn thư lưu trữ tại Trường ĐH Văn hóa nghệ thuật quân đội. Riêng ngành văn thư lưu trữ (trình độ CĐ) thì không khống chế chỉ tiêu nữ.

Hầu hết các trường đều có vùng tuyển sinh là trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, khi xét tuyển thì sẽ có điểm chuẩn riêng cho TS khu vực phía nam. Riêng Trường Sĩ quan Lục quân 1 chỉ được tuyển TS từ tỉnh Quảng Trị trở ra, Trường Sĩ quan Lục quân 2 tuyển TS từ tỉnh Thừa Thiên-Huế trở vào. Nhưng với TS các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, tùy theo NV mà được đăng ký dự tuyển vào một trong 2 trường này.

Muốn được tính điểm chuẩn theo khu vực phía nam, TS phải có hộ khẩu thường trú phía nam (từ tỉnh Quảng Trị trở vào) tính đến tháng 9 năm dự tuyển là đủ 3 năm thường trú liên tục trở lên, có ít nhất năm lớp 12 học và dự thi tốt nghiệp THPT tại các tỉnh phía nam.

Muốn đăng ký xét tuyển vào các trường quân đội, TS phải làm 2 loại hồ sơ riêng biệt. Một bộ hồ sơ đăng ký sơ tuyển do Ban Tuyển sinh, Bộ Quốc phòng phát hành, một bộ hồ sơ đăng ký dự kỳ thi THPT quốc gia do Bộ GD-ĐT phát hành.

Cũng liên quan tới vấn đề điểm chuẩn, Bộ Quốc phòng quy định thực hiện một điểm chuẩn chung với TS là quân nhân và thanh niên ngoài quân đội. Nhưng sẽ phải xác định điểm chuẩn riêng theo đối tượng nam - nữ (nếu trường có tuyển TS nữ); theo TS có hộ khẩu thường trú ở khu vực phía bắc hay nam hoặc theo từng quân khu. TS là quân nhân tại ngũ được xác định điểm tuyển theo hộ khẩu thường trú.

Những học viện, trường đồng thời xét tuyển hai tổ hợp A0 và A01 thì chỉ thực hiện một điểm chuẩn chung cả hai tổ hợp.

Tiêu chuẩn sức khỏe

Các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy, chính trị, hậu cần gồm các học viện Hậu cần, Phòng không - Không quân, Hải quân, Biên phòng và các trường sĩ quan Lục quân 1, Lục quân 2, Chính trị, Pháo binh, Công binh, Tăng - Thiết giáp, Thông tin, Đặc công, Phòng hóa (đều chỉ tuyển nam thanh niên) tiêu chuẩn sức khỏe với TS là cao từ 1,65 m trở lên, cân nặng từ 50 kg trở lên, mắt không mắc tật khúc xạ cận thị.

Các trường đào tạo sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, gồm các học viện Kỹ thuật quân sự, Quân y, Khoa học quân sự, Trường ĐH Văn hóa nghệ thuật quân đội, hệ đào tạo kỹ sư hàng không thuộc Học viện Phòng không - Không quân, Trường Sĩ quan kỹ thuật quân sự (Vin-Hem Pich) yêu cầu nam TS phải cao từ 1,63 m trở lên, cân nặng từ 50 kg trở lên; TS nữ (nếu có) phải cao từ 1,54 m trở lên, cân nặng từ 48 kg trở lên. Về thị lực, cả nam và nữ nếu mắc tật khúc xạ cận thị thì không quá 3 đi ốp.

Với các TS có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên thuộc khu vực 1, hải đảo và TS là người dân tộc thiểu số thì yêu cầu về chiều cao và thể lực được hạ thấp hơn một chút so với yêu cầu chung (chỉ cần chiều cao tối thiểu 1,62 m). TS nam là người dân tộc thiểu số thuộc 16 dân tộc rất ít người (La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Chứt, Lô Lô, Mảng, Cờ Lao, Bố Y, Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu, Phù Lá) được lấy chiều cao từ 1,60 m trở lên.

Ý kiến của bạn

Bình luận