Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể: "Thành công dù nhiều mà bằng lòng với hiện tại thì đã là không phát triển"

13:19pm - 27/08/2020

Tạp chí GTVT - Năm 2020, kỷ niệm 75 năm ngày Truyền thống ngành GTVT (28/8/1945 - 28/8/2020) cũng là năm cuối cùng của nhiệm kỳ 5 năm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng. Nhân dịp này, đồng chí Nguyễn Văn Thể - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự, Bộ trưởng Bộ GTVT đã có cuộc trao đổi với Tạp chí GTVT về thành tựu to lớn của Ngành trong quá khứ và hiện tại; tổng kết những việc làm được và tồn tại trong nhiệm kỳ, đồng thời vạch ra phương hướng và nhiệm vụ của Ngành trong những năm tới.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể - Ủy viên trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự, Bộ trưởng Bộ GTVT

 Thưa Bộ trưởng, ngành GTVT có truyền thống “Đi trước mở đường”, Bộ trưởng có thể khái quát về những đóng góp của ngành GTVT trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong 75 năm qua?

Như chúng ta đã biết, ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định số 41, thành lập Bộ Giao thông Công chính trong Chính phủ lâm thời. Từ đó đến nay, trong suốt 75 năm qua, ngành GTVT luôn phát huy vai trò “Đi trước mở đường”, không ngừng lớn mạnh, phát triển cùng đất nước, ngày càng đáp ứng tốt hơn kỳ vọng và lòng mong mỏi của nhân dân. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, ngành GTVT luôn thực hiện tốt vai trò tiên phong, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hẳn chúng ta còn ghi nhớ, bước vào cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Công việc khẩn cấp bây giờ”, ngày 5/11/1946 đã nhấn mạnh: “Giao thông vận tải là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì các việc đều dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”.

Thấm nhuần tinh thần này, trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, ngành GTVT cùng cả dân tộc bước vào cuộc trường chinh đánh giặc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Các phong trào yêu nước “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”... được dấy lên sôi nổi trong toàn Ngành. Với khẩu hiệu “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu”, lực lượng tự vệ GTVT đã cùng vào trận đánh “giặc trời”, bắn rơi 95 máy bay địch các loại, phối hợp với các lực lượng khác bắt sống 18 giặc lái, rà phá hơn 16.000 bom từ trường. Cùng thời kỳ này, ngành GTVT đã bổ sung lực lượng cho các vùng căn cứ cách mạng và vùng mới giải phóng ở miền Nam; tham gia làm nghĩa vụ quốc tế đối với hai nước bạn Lào và Campuchia.

Để giữ vững mạch máu giao thông, gần 2.600 cán bộ, chiến sỹ GTVT hy sinh bởi bom đạn của kẻ thù, hàng vạn người trở thành thương bệnh binh, hàng chục vạn người khác bỏ lại phần đời tươi đẹp nhất cùng những ước vọng giản dị nơi chiến trường và trên những nẻo đường ra trận.

Những địa danh bất tử như Điện Biên Phủ, Đường số 4, Ngã ba Đồng Lộc, cầu Hàm Rồng, cầu Bến Thủy, ga Gôi, Truông Bồn, hang Tám Cô... là những tên tuổi sẽ còn lưu danh với lịch sử của những người công nhân, thanh niên xung phong ngành GTVT.

Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, phát huy truyền thống “Đi trước mở đường”, ngành GTVT luôn tiên phong xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội phát triển. Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành và địa phương, ngành GTVT đã có những bước tiến dài cả về chất và lượng. Các công trình ngành GTVT hiện đã trải dài khắp đất nước, từng bước đồng bộ, hiện đại hóa và tham gia kết nối với cả các nước bạn giúp mở rộng giao thương.

Từ điểm xuất phát rất thấp, đến nay, khoa học - công nghệ (KHCN) của ngành GTVT đã phát triển nhanh chóng; tiếp thu và làm chủ được rất nhiều công nghệ mới, hiện đại trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông như cầu khẩu độ lớn, hệ thống đường cao tốc, hệ thống cảng biển..., trong đó lĩnh vực hàng không đã tiệm cận với mặt bằng chung của thế giới. Những thiết bị, quy trình công nghệ mới, tiên tiến này đã được áp dụng vào hầu hết các lĩnh vực của Ngành, từ đường bộ, đường sắt, đường sông đến hàng hải, hàng không...

Đây là nền tảng quan trọng để ngành GTVT Việt Nam có thể tiến nhanh, thực sự tạo ra những bước đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; tổ chức điều hành vận tải… để có thể đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong một cuộc họp từ đầu nhiệm kỳ khi nhận trọng trách “tư lệnh” ngành GTVT, Bộ trưởng đã chia sẻ đại ý: Công tác xây dựng thể chế, xây dựng văn bản QPPL là nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ này, bởi làm thể chế không tốn nhiều tiền nhưng được rất nhiều. Xin Bộ trưởng cho biết, 5 năm qua, lĩnh vực xây dựng thể chế được Bộ GTVT triển khai, thực hiện như thế nào?

Đúng như PV đã đề cập, Ban Cán sự Đảng Bộ GTVT luôn xác định công tác xây dựng thể chế là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất không chỉ của nhiệm kỳ mà còn trong những năm tiếp theo. Trong đó, hai mục tiêu chính của công tác xây dựng thể chế mà Bộ GTVT hướng tới là việc phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống các văn bản QPPL và ban hành, điều chỉnh cơ chế chính sách phù hợp với thực tế cũng như xu hướng phát triển của cơ chế thị trường. Các cơ chế, thể chế đó phải hướng đến vấn đề cốt lõi nhất là tạo thuận lợi, làm hài lòng hơn cho doanh nghiệp và người dân.

Nếu chúng ta làm tốt được điều này thì sẽ vừa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, uy tín, vai trò của Bộ GTVT, vừa góp phần giải phóng các nguồn lực to lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động vận tải.

Trong giai đoạn từ năm 2015 - 2019, Quốc hội đã thông qua 2 dự án Luật do Bộ GTVT chủ trì soạn thảo gồm: Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sửa đổi) năm 2015 và Luật Đường sắt (sửa đổi) năm 2017. Bộ GTVT đã tổng kết Luật GTĐB năm 2008 và triển khai lập hồ sơ trình Chính phủ (tháng 10/2019) và soạn thảo Dự án Luật GTĐB (sửa đổi) trình Chính phủ trong tháng 7/2020. Bên cạnh đó, Bộ cũng đang triển khai việc tổng kết Luật Giao thông Đường thủy nội địa, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam để xem xét, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp với thực tế và công tác quản lý chuyên ngành. Bộ GTVT đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 65 văn bản liên quan đến các lĩnh vực quản lý của ngành; Bộ trưởng Bộ GTVT đã ban hành theo thẩm quyền 314 Thông tư; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 22 đề án, Bộ GTVT đã phê duyệt 55 đề án.

Trong quá trình xây dựng các văn bản QPPL, chiến lược, quy hoạch, đề án, Bộ GTVT luôn chú trọng và nâng cao chất lượng, tiến độ ban hành các văn bản. Do đó, nhiều văn bản sau khi ban hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước đồng tình hưởng ứng. Cho đến thời điểm này, nhờ nỗ lực của toàn ngành, hệ thống văn bản QPPL được ban hành đang dần khép kín công tác quản lý chuyên ngành, đồng thời tạo hành lang pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước, người dân, doanh nghiệp thực hiện phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội.

Cùng với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, hiện nay Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ GTVT cũng đang triển khai quyết liệt kế hoạch cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh năm 2020.

Điểm nhấn của kế hoạch này chính là việc lấy doanh nghiệp, người dân làm trung tâm, động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thúc đẩy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tham gia hoạt động kinh doanh; giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, người dân trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực GTVT; cắt giảm, đơn giản hóa ngay những quy định không cần thiết, không hợp lý, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, bảo đảm tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia.

Tôi đặt rất nhiều kỳ vọng vào bản kế hoạch này bởi nếu thực hiện thành công thì đây sẽ là dấu ấn rất lớn của Bộ GTVT trong nhiệm kỳ này, đặc biệt là trong việc chung tay cùng với Chính phủ kiến tạo một môi trường kinh doanh công khai, minh bạch; hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến ngành GTVT.

Nói đến ngành GTVT không thể không nói về xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, Bộ trưởng đánh giá thế nào về lĩnh vực này?

Trong 5 năm qua, công tác quản lý xây dựng quy hoạch, đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đạt được những kết quả nhất định, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng GDP.

Nhiều công trình giao thông mới, nhất là các tuyến đường bộ cao tốc, các cảng biển, cảng hàng không quốc tế quan trọng được đầu tư và đưa vào khai thác đã tạo nên tính kết nối, lan tỏa lớn (kết nối với các trung tâm kinh tế lớn, kết nối tới cảng biển, cửa khẩu quốc tế...) tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng GDP, giảm chi phí, thời gian vận chuyển, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước. Bộ GTVT, các địa phương, các chủ đầu tư đã hoàn thành và đưa vào khai thác nhiều công trình giao thông lớn như: Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, cầu Bạch Đằng, cầu Cao Lãnh, cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình, Cảng Hàng không quốc tế Vân Đồn...

Nhiều dự án trong số này được huy động vốn theo hình thức xã hội hóa, trong đó có dự án đầu tư 100% vốn của tư nhân. Các dự án mới vừa được đưa vào khai thác, góp phần thay đổi diện mạo giao thông, thúc đẩy liên kết vùng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tốt hơn của người dân.

Bên cạnh đó, Bộ GTVT đang triển khai những dự án lớn như: Xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông; xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành có tính đột phá; mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất... Đến thời điểm này, tất cả những dự án trên đang được triển khai các bước theo đúng kế hoạch, tiến độ đề ra, trong đó có nhiều phân đoạn của tuyến đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông đã được khởi công trên thực địa, tiến độ triển khai đáp ứng kế hoạch đề ra. Theo dự kiến, trong tháng 9/2020, Bộ GTVT sẽ khởi công 3 dự án đầu tư công cao tốc Bắc - Nam, đồng thời đẩy nhanh tiến độ lựa chọn nhà đầu tư cho 5 dự án PPP cao tốc Bắc - Nam khác. Hai công trình cao tốc Bắc - Nam và Cảng Hàng không quốc tế Long Thành chắc chắn sẽ là những dự án mang tính đột phá, làm thay đổi đáng kể diện mạo, chất lượng giao thông nước nhà.

Tình hình trật tự ATGT 5 năm qua có những chuyển biến tích cực, tai nạn giảm mạnh cả 3 tiêu chí, nhất là số người chết từ 10.000 người năm 2015 đến nay đã giảm xuống dưới 8.000 người cũng là điểm sáng của ngành GTVT, thưa Bộ trưởng?

Tôi cho rằng, công tác đảm bảo trật tự ATGT đã thật sự có nhiều chuyển biến rất tích cực trong vòng 5 năm trở lại đây.

Cụ thể, chỉ tính riêng giai đoạn 2015 - 2019, toàn quốc xảy ra 100.881 vụ TNGT, làm chết 41.564 người, bị thương 85.818 người. So với 5 năm từ 2010 - 2014, số vụ TNGT giảm 13.373 vụ (giảm 11,7%), số người chết giảm 9.048 người (giảm 17,88%), số người bị thương giảm 22.180 người (giảm 20,54%). Năm 2019 có mức giảm sâu nhất kể từ năm 2014 đến nay, theo đó, số người chết do TNGT ở mức dưới 8.000 người, tương đương với mức năm 2000, trong khi số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tăng gấp 9 lần.

Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2020, mặc dù phải chịu tác động của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ triển khai có hiệu quả Nghị định số 100/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Nghị định số 10/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô nên tình hình trật tự ATGT có chuyển biến hết sức tích cực. TNGT giảm mạnh cả 3 tiêu chí, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông được nâng cao, nhất là vi phạm về nồng độ cồn của lái xe giảm mạnh.

Thành công bước đầu này là sự nỗ lực cao độ của cả hệ thống chính trị, trong đó Bộ GTVT và Bộ Công an là những lực lượng chủ công đi đầu. Đó còn là kết quả của việc chúng ta đã kiên trì, quyết liệt triển khai các giải pháp đồng bộ từ xây dựng văn bản QPPL về bảo đảm trật tự ATGT; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự, ATGT... đến đầu tư, xây dựng, nâng cao điều kiện an toàn của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; kiểm soát tải trọng phương tiện; việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành vận tải...

 Mặc dù đã đạt được kết quả tốt nhưng tình hình trật tự ATGT vẫn còn phức tạp, còn xảy ra nhiều vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng gây lo lắng cho nhân dân, điển hình là vụ TNGT tại Đắk Nông ngày 13/6, tại Quảng Bình ngày 26/7. Ngoài ra, tình hình vi phạm quy định về tải trọng xe vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi. Tình trạng UTGT tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh chưa được giải quyết.

Những tồn tại này khiến chúng ta chưa thể yên tâm, hài lòng với kết quả đã đạt được mà sẽ phải cố gắng hơn nữa, nhất là khi công tác đảm bảo trật tự ATGT liên quan đến nhiều yếu tố chủ quan. Nếu chúng ta không tập trung triển khai tốt và đồng bộ các nhóm giải pháp đề ra, TNGT sẽ diễn biến rất phức tạp và khó đạt được mục tiêu đề ra.

KHCN đóng vai trò then chốt trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bộ trưởng đánh giá như thế nào về lĩnh vực này của Ngành và định hướng phát triển trong thời gian tới?

Những năm qua, với mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế, bền vững, an toàn, thân thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kết nối với các quốc gia trong khu vực và quốc tế, ngành GTVT đã và đang nỗ lực thực hiện kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ với nhịp độ tăng trưởng nhanh chóng, đạt những thành tựu đáng ghi nhận. Đối với thành tích chung của Ngành trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông có vai trò đóng góp xứng đáng và hết sức quan trọng của KHCN như:

Công tác xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đồng bộ, tiên tiến và hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế; công tác ứng dụng kết quả công nghệ mới, vật liệu mới, tiến bộ KHCN hiện đại được tăng cường ứng dụng trong xây dựng, bảo trì và vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (công nghệ cào bóc tái chế nguội, công nghệ bảo trì Microsurfacing, công nghệ bê tông nhựa rỗng thoát nước...); việc hoàn thành nhiều công trình có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, kỹ thuật phức tạp (cầu Bạch Đằng, cầu Cao Lãnh, sân bay Vân Đồn, hầm Đèo Cả...) với chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật cao đã khẳng định bước tiến bộ vượt bậc cả về chất và lượng của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, khẳng định vai trò của KHCN trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam.

Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, ngành GTVT đã chủ động tập trung xây dựng, phê duyệt “Đề án Ứng dụng khoa học công nghệ ngành GTVT trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, với mục tiêu sẽ là “đòn bẩy” quan trọng để đưa ngành GTVT bứt phá, trong đó tập trung định hướng cho các đơn vị thuộc ngành GTVT nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ KHCN của cách mạng công nghiệp 4.0 vào thực tế quản lý và sản xuất của ngành GTVT. Công tác KHCN của ngành GTVT cần tập trung vào giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ mới tiên tiến trên thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời cần đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu tiếp cận và tham gia cách mạng công nghiệp 4.0.

Thành tựu 5 năm qua của ngành là rất to lớn, là mốc ghi dấu quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của Ngành trong 75 năm qua. Nhưng thực tế, bên cạnh thành công đó thì thời cơ và thách thức đối với Ngành còn rất nhiều mà thời điểm kết thúc nhiệm kỳ cũng không còn dài. Xin hỏi Bộ trưởng có trăn trở gì?

Dĩ nhiên, là người đứng đầu ngành GTVT tôi còn nhiều trăn trở vì dù thành công có nhiều đến bao nhiêu mà bằng lòng với hiện tại thì đã là không phát triển, trong khi thực tế kết cấu hạ tầng giao thông vẫn chưa thực sự được đầu tư đi trước một bước.

Trong thời gian qua, bên cạnh nhiều thành tựu đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao nhưng vì nhiều lý do, trong đó có việc vốn kế hoạch trung hạn chỉ đáp ứng được khoảng 24% nhu cầu nên nhiều công trình hạ tầng giao thông trong giai đoạn 2016 - 2020 do Bộ GTVT quản lý dù có nhu cầu nhưng chưa bố trí được vốn để khởi công, nhiều nhiệm vụ ưu tiên chưa thể cân đối, bố trí đủ vốn để triển khai. Bên cạnh đó, chất lượng kết cấu hạ tầng vẫn ở mức thấp trong khu vực và thế giới khiến chi phí logistics ở Việt Nam vẫn rất cao; ùn tắc vẫn diễn ra ở nhiều thành phố lớn; TNGT dù liên tục giảm nhưng vẫn ở mức cao và chưa ổn định, mỗi ngày vẫn có hơn 20 người thiệt mạng do TNGT; giao thông nông thôn, miền núi dù được quan tâm đầu tư nhưng ở nhiều địa phương chất lượng còn thấp, hạn chế đáng kể việc giao thương, phát triển kinh tế - xã hội...

Hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong Ngành chuyển biến tích cực song một số vẫn còn khó khăn, chưa bảo đảm đủ việc làm cho người lao động, tình trạng nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội vẫn còn ở một số doanh nghiệp.

Đây là những thử thách rất lớn đặt ra cho ngành GTVT cần sớm phải xử lý để đưa GTVT thoát khỏi “điểm nghẽn”, thực sự trở thành động lực cho cả nền kinh tế.

Để giải quyết bài toán hóc búa nói trên, cùng với việc triển khai quy hoạch, nghiên cứu thật tốt, có lộ trình triển khai phù hợp, chúng ta cần tìm cách tăng tốc nhịp độ phát triển hiện nay bằng việc huy động tổng hợp các nguồn lực mà đất nước đang có. Để có những nguồn lực ấy, ngành GTVT cần cải cách hành chính mạnh mẽ và thực chất hơn nữa, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển.

Tôi tin tưởng rằng, với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương; với truyền thống vượt khó và khát vọng cống hiến, ngành GTVT sẽ nỗ lực, phấn đấu hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2030.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

 

 

PV